Thứ Tư, 8 tháng 1, 2014

Nguyên nhân và cách phòng tránh ung thư vòm họng

Ung thư vòm họng (NPC) hay thường được gọi là "ung thư mũi" xảy ra khi các tế bào ung thư phát triển từ các mô trong mũi hầu, khu vực phía sau khoang mũi và trên mặt sau của cổ họng. Vì các tính chất đặc biệt của nó, ung thư biểu mô vòm họng (NPC) thường được thảo luận như một sự tồn tại riêng biệt với các ung thư cổ và đầu khác.
Trong quãng thời gian 2003 và 2007, nó đã là căn bệnh ung thư phổ biến thứ 7 ở nam giới ở Singapore và thứ 12 ở nữ giới, chiếm 4,6 phần trăm các ca tử vong ung thư ở nam giới và 1,7 phần trăm các ca tử vong ung thư ở phụ nữ. Trong ba chủng tộc lớn ở Singapore, tỷ lệ mắc NPC là cao nhất ở người Trung Quốc tiếp theo là người Mã Lai, và là hiếm gặp ở người Ấn Độ.

Nguyên nhân gây bệnh ung thư vòm họng
Người Trung Quốc từ các vùng đặc hữu như người Hồng Kông và người miền Nam Trung Quốc có nguy cơ cao nhất mắc NPC. Người Trung Quốc từ các vùng khác và người Trung Quốc di cư từ một khu vực đặc hữu đến một khu vực có nguy cơ thấp cũng có nguy cơ tăng lên mắc NPC. Dân số từ các nước Bắc Phi và các nước Trung Đông cũng có nguy cơ trung gian mắc NPC. Tại Singapore, nguy cơ mắc NPC ở nam giới là khoảng 3 lần lớn hơn so với nữ giới.
Trong khi những nguyên nhân chính xác của bệnh ung thư còn chưa biết, sự nhiễm vi rút Epstein Barr (EBV) được xem là quan trọng trong sự phát triển của NPC. Các yếu tố nguy cơ dẫn đến NPC bao gồm ăn quá nhiều cá muối từ khi còn nhỏ, ăn nhiều thực phẩm bảo quản hoặc lên men, và hút thuốc lá. Ngoài ra còn có một yếu tố xu hướng gia đình, những người thân thiết mức độ một với các bệnh nhân NPC có một nguy cơ phát triển ung thư mũi cao hơn những người không có quan hệ gần gũi với NPC.
Tin tức tốt lành về ung thư mũi là tỷ lệ mắc bệnh ngày càng giảm ở Singapore. Điều này có thể một phần là do một thế hệ trẻ hơn với các lựa chọn thực phẩm phong phú hơn và tiêu thụ ít cá muối và rau quả bảo quản hơn.
Phòng tránh bệnh ung thu vom hong
Nhiều người thường chạy khám lung tung: bác sĩ thần kinh, bác sĩ tai mũi họng, bác sĩ ung bướu… Nếu bác sĩ có kinh nghiệm về bệnh này thì thường cho nội soi vòm họng: ống mềm đầu có gắn camera đưa qua miệng, xem thấy cả vòm họng. Nếu gây tê tại chỗ, ống soi mềm mại sẽ không làm đau. Khi thấy chỗ nghi ngờ thì cắt lấy một mẫu mô làm sinh thiết định bệnh. Chẩn đoán hình ảnh như cắt lớp điện toán (CT), cộng hưởng từ (MRI), giúp đánh giá mức lan rộng của ung thư rồi xếp giai đoạn gồm I, II, III và IV. Kết quả điều trị tùy thuộc mức độ xâm lấn và lan tràn của bệnh, nghĩa là tùy thuộc vào giai đoạn. Do vị trí đặc biệt của vòm họng, lúc đầu ung thư không có triệu chứng, bệnh trổ ra thì phần lớn ở vào GĐ III và IV.
Lưu tâm phòng tránh. Có loại virút EBV nhiễm lâu không gây xáo trộn gì, nhưng thói quen ăn cá khô muối mặn (chứa chất nitrôsamin) từ tuổi nhỏ thúc đẩy virút gây ung thư. Các yếu tố khác có thể “cộng tác” với virút như: tiếp xúc chất benzopyren, khói công nghiệp, hóa chất bốc hơi như formol, viêm vòm họng mạn tính do thuốc lá, rượu…

Tránh ăn hoài, lún sâu vào các loại cá khô và thức ăn muối mặn. Đừng để viêm họng thành mạn tính do khói thuốc lá, rượu. Tránh phơi nhiễm các chất độc hại do nghề nghiệp. Điều chỉnh các thói quen từ xa, thì tránh được căn bệnh gần.

Thứ Ba, 7 tháng 1, 2014

Phòng tránh và điều trị bệnh ung thư vòm họng

CÁCH ĐIỀU TRỊ BỆNH UNG THƯ VÒM HỌNG

Sau khi được chẩn đoán, các bác sỹ sẽ xác định giai đoạn của bệnh, căn cứ vào giai đoạn bệnh cùng một vài yếu tố khác để quyết định kế hoạch điều trị và tiên lượng bệnh.
Kế hoạch điều trị dựa trên giai đoạn của ung thư, tổng trạng của người bệnh và các tác dụng phụ. Xạ trị là chủ yếu, có thể kết hợp với hóa trị. Rất mừng các máy xạ trị hiện đại nay đã có sẵn giúp điều trị tốt loại ung thư này. Các thuốc mới hiệu quả có thể tăng thêm kết quả tốt khi điều trị. Chất lượng xạ trị tốt, đủ trị tốt các ung thư nhỏ, khi cần thì phối hợp thêm với hóa trị. Kết hợp với thuốc đặc trị hiệu quả và phát hiện sớm hơn, kết quả điều trị tốt có thể đưa lên mức 60 - 70%.

1 – Điều trị ung thư vòm họng bằng tia xạ

- Với ung thư vòm họng hiện nay, xạ trị là phương pháp điều trị quan trọng nhất, chiếu tia cả khối u và hạch cổ nếu có. Với tiến bộ của khoa học kỹ thuật, các bác sỹ có thể xác định chính xác trường chiếu tia dựa vào các hình ảnh không gian 3 chiều nhằm tăng tối đa tác dụng của tia xạ trên khối u đồng thời hạn chế làm tổn thương mô lành.

2. Điều trị bằng hóa chất

- Trước đây hóa chất chỉ được sử dụng khi ung thư vòm có di căn xa hoặc khi điều trị tia xạ thất bại, xu hướng mới hiện nay là điều trị tia xạ kết hợp với hóa chất ngay từ đầu để làm tăng hiệu quả điều trị triệt để khối u.

3 – Điều trị ung thư vòm bằng phẫu thuật

- Do vòm họng nằm ở vị trí giải phẫu chật hẹp và sâu nên trước đây phẫu thuật không có vai trò quan trọng trong điều trị triệt để mà chỉ có vai trò trong việc lấy bệnh phẩm để chẩn đoán bệnh. Ngày nay với sự tiến bộ của phẫu thuật nền sọ, kết hợp với nội soi đã mở ra cơ hội chữa khỏi bệnh cho những bệnh nhân ung thư vòm họng thể kém đáp ứng với tia xạ như thể sừng hóa hoặc tái phát. Ngoài ra phẫu thuật còn có thể loại bỏ các hạch di căn ở vùng cổ giai đoạn còn khu trú.

4 – Một số phương pháp khác điều trị ung thư vòm họng

- Ngoài các phương pháp điều trị cơ bản như trên, các nhà khoa học hiện nay đang nỗ lực nghiên cứu các biện pháp điều trị mới dựa trên sinh học phân tử, công nghệ gen, miễn dịch học… và bước đầu đã cho thấy hiệu quả điều trị tích cực.
Lưu tâm phòng tránh. Có loại virút EBV nhiễm lâu không gây xáo trộn gì, nhưng thói quen ăn cá khô muối mặn (chứa chất nitrôsamin) từ tuổi nhỏ thúc đẩy virút gây ung thư. Các yếu tố khác có thể “cộng tác” với virút như: tiếp xúc chất benzopyren, khói công nghiệp, hóa chất bốc hơi như formol, viêm vòm họng mạn tính do thuốc lá, rượu…

Tránh ăn hoài, lún sâu vào các loại cá khô và thức ăn muối mặn. Đừng để viêm họng thành mạn tính do khói thuốc lá, rượu. Tránh phơi nhiễm các chất độc hại do nghề nghiệp. Điều chỉnh các thói quen từ xa, thì tránh được căn bệnh gần.

Thứ Hai, 6 tháng 1, 2014

Tổng quan về bệnh ung thư vòm họng

Ung thư vòm họng (NPC) hay thường được gọi là "ung thư mũi" xảy ra khi các tế bào ung thư phát triển từ các mô trong mũi hầu, khu vực phía sau khoang mũi và trên mặt sau của cổ họng. Vì các tính chất đặc biệt của nó, ung thư biểu mô vòm họng (NPC) thường được thảo luận như một sự tồn tại riêng biệt với các ung thư cổ và đầu khác.
Trong quãng thời gian 2003 và 2007, nó đã là căn bệnh ung thư phổ biến thứ 7 ở nam giới ở Singapore và thứ 12 ở nữ giới, chiếm 4,6 phần trăm các ca tử vong ung thư ở nam giới và 1,7 phần trăm các ca tử vong ung thư ở phụ nữ. Trong ba chủng tộc lớn ở Singapore, tỷ lệ mắc NPC là cao nhất ở người Trung Quốc tiếp theo là người Mã Lai, và là hiếm gặp ở người Ấn Độ.

Nguyên nhân gây bệnh ung thư vòm họng: 
Trong khi những nguyên nhân chính xác của bệnh ung thư còn chưa biết, sự nhiễm vi rút Epstein Barr (EBV) được xem là quan trọng trong sự phát triển của NPC. Các yếu tố nguy cơ dẫn đến NPC bao gồm ăn quá nhiều cá muối từ khi còn nhỏ, ăn nhiều thực phẩm bảo quản hoặc lên men, và hút thuốc lá. Ngoài ra còn có một yếu tố xu hướng gia đình, những người thân thiết mức độ một với các bệnh nhân NPC có một nguy cơ phát triển ung thư mũi cao hơn những người không có quan hệ gần gũi với NPC.
Tin tức tốt lành về ung thư mũi là tỷ lệ mắc bệnh ngày càng giảm ở Singapore. Điều này có thể một phần là do một thế hệ trẻ hơn với các lựa chọn thực phẩm phong phú hơn và tiêu thụ ít cá muối và rau quả bảo quản hơn.
Điều trị bệnh ung thư vòm họng

1. Xạ trị đơn thuần

. Chỉ định cho các giai đoạn sớm T1, T2, N0, N1, M0
. Kỹ thuật xạ trị: Trải liều 2Gy ngày, 10Gy tuần, tổng liều xạ cho T1, T2: 65 - 70Gy; N0: 50Gy; N1: 60 - 65Gy.

2. Hoá trị kết hợp với xạ trị

. Chỉ định cho các giai đoạn muộn T3, T4, N2, N3 và một số trường hợp M1.
. Các hoá chất chủ yếu theo phác đồ 5FU kết hợp với Cisplatine, ba đợt sau đó chuyển sang xạ trị phối hợp.
. Kỹ thuật xạ trị như trên, tổng liều xạ cho T3, T4 từ 70 - 75Gy; N2, N3 trung bình 65 - 70Gy, thời gian 7 - 8 tuần.

3. Phẫu thuật

. Chỉ định cho các trường hợp hạch còn sót lại sau xạ trị 2 tháng.

Tiên lượng

Ung thư vòm họng có tiên lượng tốt, tỉ lệ sống sau 5 năm ở giai đoạn sớm I, II từ 70 - 90%, giai đoạn III và IV chỉ còn 15%-30%